|

Thầy Phạm Như Trù một
thời chống nạng dạy học
Trường đặc biệt, thày đặc
biệt và tṛ đặc biệt
Làng phong Văn Môn là ngôi làng duy nhất không
thuộc xă mà trực thuộc Bệnh viện Phong
da liễu Văn Môn. Những người mắc
bệnh phong mặc dù đă được chữa
khỏi nhưng họ không trở về quê cũ
nữa, phần v́ bị mọi người xa lánh,
phần v́ họ coi nơi này là quê hương
thứ hai nên đă ở lại đây, tạo
lập cuộc sống.
Vào thời điểm mới thành lập, do hạn
chế về hiểu biết nên không có ngôi trường
nào nhận con em bệnh nhân phong vào học v́
sợ lây nhiễm. Bệnh phong bị coi là căn
bệnh “tứ chứng nan y”, c̣n gọi là
bệnh “cùi” hay bệnh “hủi”. Những đứa
trẻ chào đời ở đây không được
đi học. Cuộc sống của chúng quanh
quẩn với những buổi ṃ cua bắt ốc,
bới khoai mót sắn... Đó vừa là niềm vui
tuổi thơ, vừa là những công việc duy
nhất mà chúng có thể làm được để
kiếm sống.
“Đói cơm, đói gạo nhưng không thể
đói chữ” - Đó là quyết tâm của
cả làng Văn Môn ngày ấy. Ai cũng nghĩ:
đời họ đă khổ, các con họ phải
khác. Muốn thay đổi được số
phận th́ đầu tiên phải có cái chữ!
Từ suy nghĩ ấy, một vài người
mắc bệnh phong được điều
trị ở làng đă tiên phong thành lập trường
học để xóa mù chữ. Tổ giáo viên ra
đời vào năm 1955, với 40 giáo viên “cây nhà
lá vườn”. Trẻ tuổi. Nhiệt huyết…
Chỉ có điều, họ là những bệnh nhân
mắc bệnh nan y, bị người đời xua
đuổi. Ban đầu, công việc của tổ
tập trung vào dạy bổ túc văn hoá cho
những cụ già trong làng. Mười năm là
khoảng thời gian tạm xóa mù chữ cho thế
hệ “cây đa, cây đề” – những
bệnh nhân phong đầu tiên của làng. Tiếp
đó, cùng với những thầy, cô bất đắc
dĩ này, những người đă được
xóa mù chữ lại lên bục giảng, dạy
những con chữ đầu tiên cho con cháu của ḿnh….
Trao đổi với phóng viên, cô Phạm Thị
Viễn, gần 30 năm dạy lớp 1 cho con em
của làng không giấu được xúc động:
“Cực lắm cô ơi, bọn trẻ nó thèm
học nên cứ chiều chiều đi bắt cua
đồng về, đứa nào cũng lấm lem nhưng
vẫn cố đi đường ṿng ra chân đê
len lén nh́n trẻ con làng khác đi học về. Nghĩ
tội nghiệp nên chúng tôi bảo nhau mở
lớp dạy chúng cái chữ cho bằng bạn
bằng bè, chí ít cũng phải viết được
cái tên ḿnh, biết tính toán mà tính kế sinh nhai
chứ”.
Ngày đó mỗi năm, trường chỉ dạy
8 lớp, từ mẫu giáo đến lớp 4,
mỗi lớp chỉ khoảng 12-15 học sinh. Nhưng
cả làng Văn Môn vui như mở hội. Có
lẽ v́ đi học và cái chữ nó lạ nên
trẻ em làng Văn Môn thích thú lắm, chúng
chẳng thiết tha ǵ đi kiếm cái ăn
nữa mà chỉ “nhăm nhe” đến lớp
học thầy. Ngày nắng đội mũ rơm,
ngày mưa đội lá chuối, con đường
làng nhỏ xíu vẫn cứ ríu rít tiếng cười
nói rôm rả của các em học sinh. Ngôi trường
đặc biệt trong ngôi làng đặc biệt
ấy đến nay luôn là niềm tự hào của
người dân nơi đây.
“…Ông ấy là thầy giáo”
Bác sỹ Bùi Huy Thiện – Giám đốc bệnh
viện chia sẻ: “Điều đáng quư nhất
trong ngôi trường này là dù chống chọi
với bệnh tật cấu xé cơ thể,
lấy đi từng đốt ngón tay, ngón chân... nhưng
những người giáo viên vẫn ngày hai buổi
đến lớp mà không có bất cứ một
đồng lương nào. Con em làng phong thành đạt
ngày hôm nay đều là nhờ vào những người
giáo viên ấy”.
Nghề “gơ đầu trẻ” vốn nhọc
nhằn và với những người giáo viên
mắc bệnh phong th́ nhọc nhằn hơn gấp
bội. Cơ thể họ bị ăn ṃn dần, có
những người bị cắt chân, liệt tay,
mắt loà phải đeo kính, chống nạng...
đi dạy học nên cái việc nắn chữ cho
bọn trẻ gian nan vô cùng. Tay thầy cô cụt
từng đốt, thậm chí cả bàn mà vẫn
tỳ sát những đôi tay học sinh lành lặn,
uốn nắn từng nét chữ, dẫn dắt bao tâm
hồn, bao thế hệ học sinh trưởng thành…
Thầy Phạm Như Trù, một trong những người
giáo viên “cùi” khởi xướng phong trào dạy
học tâm sự: “Thời gian đầu đôi tay
c̣n nguyên vẹn, tôi cầm bút, phấn bằng tay
phải, một vài năm sau tay phải cụt
dần chỉ c̣n vài đốt, tôi luyện
viết tay trái, vài năm sau nữa chân phải
bị rụng, tôi chống nạng lên bục
giảng”... Đau đớn khi mất đi
những bộ phận trên cơ thể do sự
ăn ṃn của bệnh tật chẳng làm sờn ḷng
người thầy giáo hết mực với con
trẻ này.
Vợ ông, bà Nguyễn Thị Canh - cũng là
bệnh nhân phong thành thật: “Tôi cũng bảo ông
ấy sao cứ “cơm nhà vác tù và hàng tổng”,
ngày th́ đi dạy, tối lại soạn giáo án,
gầy rạc người đi, nhưng ông ấy
chả nghe, bảo tôi rằng v́ ông ấy là
thầy giáo... Nói thế th́ tôi chịu, cũng
cố mà làm vài sào ruộng nuôi ông ấy dạy
học thôi chứ biết làm sao”.
Qua cơn bĩ cực tới ngày thái lai
Khi tôi trở lại Văn Môn vào đúng ngày vinh
quang nhất của người thầy giáo “cùi”,
Cổ giáo viên năm xưa trong ngôi trường
đặc biệt này chỉ c̣n 12 người,
bởi có người đă ra đi v́ chẳng vượt
qua được sự đau đớn của
bệnh tật, của tuổi già. 12 người giáo
viên bây giờ hầu hết đều ở cái
tuổi “thất thập cổ lai hy”, mái tóc
bạc trắng màu thời gian. Họ gầy đi,
yếu đi nhưng gương mặt rạng
rỡ toát lên niềm hạnh phúc v́ bao năm nay
họ cống hiến không mệt mỏi cho sự
nghiệp trồng người, nay đă được
đền đáp.

Lễ đón nhận kỷ
niệm chương V́ sự nghiệp giáo
dục
Chị Nguyễn Thị Mùi là một trong những
học tṛ ngoan, nay đang là Chủ tịch công
đoàn của Bệnh viện đă khóc nấc lên
khi chứng kiến thầy cô ḿnh được
nhận kỉ niệm chương: “Phải làm
một cái ǵ đó để trả nghĩa công
ơn thầy cô là điều tôi trăn trở bao
năm nay. Hôm nay ước nguyện của thầy
cô đă thành, mọi cơ cực ngày nào trong ngôi
trường cũ lại ùa về”.
Những người học tṛ năm xưa, có
tới gần trăm học sinh thi đỗ vào các
trường đại học, cao đẳng
rồi có người làm tiến sĩ, giáo viên, bác
sỹ, nhà báo… đang làm việc trên mọi
miền Tổ quốc. Họ trở về Văn Môn
để cùng chung vui với thầy cô ḿnh trong ngày
đón nhận kỉ niệm chương của
Bộ Giáo dục - Đào tạo.
Anh Đỗ Đ́nh Thắng, học sinh cũ nay
đă là Hiệu trưởng trường Tiểu
học Vũ Đoài vẫn thường xuyên đến
thăm hỏi, động viên thầy cô. Anh chia
sẻ: “Ngày đó không có thầy cô dạy dỗ
chắc tôi chẳng có ngày hôm nay, sẽ có một
thế hệ gần 300 học sinh mù chữ, một
thế hệ phải sống trong sự nghèo đói
và ngu muội”.
Thầy tṛ gặp lại nhau, mừng vui khôn
xiết, tưởng như cái ngày hôm nay cứ dài
măi, dài măi. Tay tṛ vẫn nguyên vẹn, tay thầy
vẫn cụt từng đốt nhưng họ
nắm lấy nhau rất chặt như cái ngày đầu
rèn viết chữ vậy. Thầy Lê Hữu
Định, 77 tuổi, có mấy chục năm
liền dạy học đưa đôi tay cụt
nắm lấy tay tôi và rưng rưng: “Tôi đă là
thầy giáo. Bao năm mong mỏi giờ đă thành
hiện thực, thấy ḿnh như trẻ ra mấy
tuổi. Cô chụp cho tôi kiểu ảnh để tôi
mang về quê khoe với mọi người…”. Nh́n
người thầy giáo run run ôm bó hoa và tấm
bằng khen rồi nở nụ cười măn
nguyện, mọi người đều cảm động
đến rớm nước mắt…
Có thể hiểu được v́ sao hai chữ
“thầy giáo” đối với thầy Lê Hữu
Định lại thiêng liêng đến thế. Cái
nghiệp làm thầy bao năm qua ở mảnh đất
cô độc này đă khiến cho khát khao của
con người trở nên mănh liệt. 30 năm
cống hiến, 30 năm trồng người không
một đồng lương nhưng người ta
vẫn hạnh phúc với những điều
giản đơn nhất.
Ngày 20-11, họ đâu cần điều ǵ đó
cao sang. Chỉ cần một bó hoa và một
tiếng gọi “thầy”!
Hoàng Hà
Vân
|